thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

chế độ chính sách mới

TRIỂN KHAI NHIỀU CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT MỚI NĂM 2016
Ngày đăng 27/01/2016 | 09:30  | View count: 144

 TRIỂN KHAI NHIỀU CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT MỚI

 

     Từ 1/1/2016, 10 luật có hiệu lực thi hành gồm: Luật Bảo hiểm xã hội; Luật căn cước công dân; Luật hộ tịch; Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi; Luật nghĩa vụ quân sự; Luật tổ chức chính quyền địa phương; Luật tổ chức Chính phủ; Luật kiểm toán; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Luật tổ chức Quốc hội. Từ 01/7/2016 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thi hành.

     I. LUẬT HỘ TỊCH 2014

    Từ ngày 01/01/2016, Luật hộ tịch 2014 chính thức có hiệu lực. Luật hộ tịch gồm có 7 chương và 77 điều. Luật có những quy định cải cách mạnh mẽ về trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch, tạo thuận lợi tối đa cho người dân (như: đơn giản hóa và cắt giảm nhiều giấy tờ không cần thiết khi đăng ký hộ tịch; cải tiến phương thức nộp hồ sơ để người dân lựa chọn – nộp trực tiếp, gửi qua bưu chính hoặc qua hệ thống đăng ký hộ tịch trực tuyến khi điều kiện cho phép; giảm thời hạn giải quyết đối với hầu hết các việc hộ tịch).

Luật hộ tịch cũng quy định cá nhân có quyền lựa chọn cơ quan đăng ký hộ tịch cho mình mà không phải phụ thuộc vào nơi cư trú như trước đây. Cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống. Khi đăng ký hộ tịch, người dân được cấp trích lục hộ tịch. Đối với một số việc hộ tịch quan trọng liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của người dân là khai sinh, kết hôn, Luật hộ tịch quy định sau khi đăng ký người dân vẫn được cấp bản chính Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn. Luật hộ tịch có những điểm nổi bật như sau: 

     1. Nội dung đăng ký hộ tịch

    Luật hộ tịch 2014 đã phân định rõ ràng về các trường hợp xác nhận vào Sổ hộ tịch và trường hợp ghi vào Sổ hộ tịch. Theo đó: 

- Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: Khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử.

- Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:

+ Thay đổi quốc tịch, xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi;

+ Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn;

+ Công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

- Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

- Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.

      2. Thời hạn giải quyết đăng ký hộ tịch

- Đối với những việc hộ tịch mà Luật này không quy định thời hạn thì được giải quyết ngay trong ngày.

- Trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo.

- Mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền theo quy định của Luật này.

     3. Thẩm quyền đăng ký hộ tịch

Phân định rõ thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp xã, cấp huyện, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài.

     4. Miễn lệ phí đăng ký hộ tịch

Các trường hợp sau đây được miễn lệ phí hộ tịch: 

+ Đăng ký hộ tịch cho người thuộc gia đình có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; người khuyết tật.

+ Đăng ký khai sinh, khai tử đúng hạn, giám hộ, kết hôn của công dân Việt Nam cư trú ở trong nước.

Cá nhân yêu cầu đăng ký sự kiện hộ tịch khác ngoài quy định nêu trên, yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch phải nộp lệ phí.

     5. Nội dung đăng ký khai sinh gồm:

-Thông tin của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch.

- Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú.

- Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh.

6. Thẩm quyền đăng ký khai sinh

Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em trong các trường hợp sau đây:

-Trẻ em được sinh ra tại Việt Nam:

+ Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch.

+ Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước còn người kia là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài.

+ Có cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài.

+ Có cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch.

- Trẻ em được sinh ra ở nước ngoài chưa được đăng ký khai sinh về cư trú tại Việt Nam:

+ Có cha và mẹ là công dân Việt Nam.

+ Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam.

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh.

     7.  Phạm vi thay đổi hộ tịch

- Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự.

- Thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi.

     8. Nguyên tắc quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu (CSDL) hộ tịch

- CSDL hộ tịch được quản lý, bảo mật, bảo đảm an toàn; chỉ những cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền mới được tiếp cận và khai thác theo quy định của pháp luật.

- Cơ quan quản lý CSDL hộ tịch có trách nhiệm bảo đảm bí mật cá nhân trong CSDL hộ tịch.

     9. Cấp bản chính trích lục hộ tịch khi đăng ký hộ tịch

- Khi đăng ký hộ tịch, cơ quan đăng ký hộ tịch cấp 01 bản chính trích lục hộ tịch cho người yêu cầu đăng ký hộ tịch, trừ việc đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn.

- Bản chính trích lục hộ tịch được chứng thực bản sao.

     10. Thủ tục cấp bản sao trích lục hộ tịch

- Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch trực tiếp hoặc thông qua người đại diện gửi tờ khai theo mẫu quy định cho Cơ quan quản lý CSDL hộ tịch.

Trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đề nghị cấp bản sao trích lục hộ tịch của cá nhân thì gửi văn bản yêu cầu nêu rõ lý do cho Cơ quan quản lý CSDL hộ tịch.

-  Ngay sau khi nhận được yêu cầu, nếu đủ điều kiện thì Cơ quan quản lý CSDL hộ tịch cấp bản sao trích lục hộ tịch cho người yêu cầu.

     Ngày 15 tháng 11 năm 2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch. Ngày 16 tháng 11 năm 2015 Bộ Tư pháp cũng đã ban hành Thông tư số 15/2015/TT-BTP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch.

     II. LUẬT CĂN CƯỚC CÔNG DÂN

Từ ngày 01/01/2016, Luật Căn cước công dân (CCCD) bắt đầu có hiệu lực thi hành. Theo đó, có một số nội dung nổi bật như sau: 

     1. Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư 

Theo đó, yêu cầu xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư như sau:

- Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được quản lý tập trung, thống nhất và xây dựng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật công nghệ thông tin, định mức kinh tế - kỹ thuật.

- Bảo đảm an toàn, thuận tiện cho việc thu thập, cập nhật, khai thác, sử dụng.

- Bảo đảm kết nối với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

- Bảo đảm quyền khai thác thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định.

Nội dung thông tin được thu thập, cập nhật gồm:

- Họ, chữ đệm và tên khai sinh.

- Ngày, tháng, năm sinh.

- Giới tính.

- Nơi đăng ký khai sinh.

- Quê quán.

- Dân tộc.

- Tôn giáo.

- Quốc tịch.

- Tình trạng hôn nhân.

- Nơi thường trú.

- Nơi ở hiện tại.

- Nhóm máu, khi công dân yêu cầu cập nhật và xuất trình bản kết luận về xét nghiệm xác định nhóm máu của người đó.

- Họ, chữ đệm và tên, số định danh cá nhân hoặc số CMND, quốc tịch của cha, mẹ, vợ, chồng hoặc người đại diện hợp pháp.

- Họ, chữ đệm và tên, số định danh cá nhân hoặc số CMND của chủ hộ, quan hệ với chủ hộ.

- Ngày, tháng, năm chết hoặc mất tích.

     2. Nội dung Thẻ CCCD  

     Luật căn cước công dân lấy tên gọi của giấy tờ về căn cước công dân là thẻ Căn cước công dân để thay cho tên gọi "Chứng minh nhân dân" như hiện nay.

Thẻ CCCD gồm thông tin sau đây:

- Mặt trước thẻ có hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc; dòng chữ "CCCD"; ảnh, số thẻ CCCD, họ, chữ đệm và tên khai sinh, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quốc tịch, quê quán, nơi thường trú; ngày, tháng, năm hết hạn.

- Mặt sau thẻ có bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa; vân tay, đặc điểm nhân dạng của người được cấp thẻ; ngày, tháng, năm cấp thẻ; họ, chữ đệm và tên, chức danh, chữ ký của người cấp thẻ và dấu có hình Quốc huy của cơ quan cấp thẻ.

     3. Người được cấp thẻ CCCD và số thẻ CCCD 

- Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi được cấp thẻ CCCD.

- Số thẻ CCCD là số định danh cá nhân.

    4. Độ tuổi đổi thẻ CCCD 

- Thẻ CCCD  phải được đổi khi công dân đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi.

- Trường hợp thẻ CCCD  được cấp, đổi, cấp lại trong thời hạn 2 năm trước tuổi quy định nêu trên thì vẫn có giá trị sử dụng đến tuổi đổi thẻ tiếp theo.

    5. Các trường hợp đổi, cấp lại thẻ CCCD 

- Thẻ CCCD được đổi trong các trường hợp sau đây:

+ Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 21 của Luật này.

+ Thẻ bị hư hỏng không sử dụng được.

+ Thay đổi thông tin về họ, chữ đệm, tên; đặc điểm nhân dạng.

+ Xác định lại giới tính, quê quán.

+ Có sai sót về thông tin trên thẻ CCCD.

+ Khi công dân có yêu cầu.

- Thẻ CCCD được cấp lại trong các trường hợp sau đây:

+ Bị mất thẻ CCCD.

+ Được trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật quốc tịch Việt Nam.

     6. Giá trị sử dụng của Thẻ CCCD  

    - Thẻ CCCD là giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam có giá trị chứng minh về CCCD của người được cấp thẻ để thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam.

- Thẻ CCCD được sử dụng thay cho việc sử dụng hộ chiếu trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép công dân nước ký kết được sử dụng thẻ CCCD thay cho việc sử dụng hộ chiếu trên lãnh thổ của nhau.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được yêu cầu công dân xuất trình thẻ CCCD để kiểm tra về căn cước và các thông tin quy định tại Điều 18 của Luật này; được sử dụng số định danh cá nhân trên thẻ CCCD để kiểm tra thông tin của người được cấp thẻ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định.

Khi công dân xuất trình thẻ CCCD theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đó không được yêu cầu công dân xuất trình thêm giấy tờ khác chứng nhận các thông tin.

- Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích chính đáng của người được cấp thẻ CCCD theo quy định của pháp luật.

     Đến nay, đã có các văn bản sau hướng dẫn Luật CCCD 2014:

- Thông tư 61/2015/TT-BCA quy định về mẫu Thẻ CCCD.

- Thông tư 170/2015/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí thẻ CCCD

III. LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT SỬA ĐỔI 2014

Từ ngày 01/01/2016, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi 2014 bắt đầu có hiệu lực. Theo đó, có các điểm mới như sau: 

    1. Các chế phẩm pha chế xăng không còn thuộc đối tượng chịu thuế

Cụ thể, nap-ta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác để pha chế xăng không còn thuộc đối tượng chịu thuế. 

    2. Thêm đối tượng không chịu thuế 

Ngoài các đối tượng không chịu thuế quy định tại Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2008, bổ sung thêm tàu bay sử dụng cho mục đích an ninh, quốc phòng.

    3. Điều chỉnh giá tính thuế

Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa, dịch vụ là giá bán ra, giá cung ứng dịch vụ chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt, chưa có thuế bảo vệ môi trường và chưa có thuế giá trị gia tăng.

Trước đây: Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa, dịch vụ là giá bán ra, giá cung ứng dịch vụ chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt và chưa có thuế giá trị gia tăng.

   4. Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt

- Đối với thuốc lá điếu, xì gà và các chế phẩm khác từ cây thuốc lá: 

+ Từ ngày 01/01/2016 đến hết 31/12/2018: 70%.

+ Từ ngày 01/01/2019: 75%.

Trước đây là 65%.

- Đối với rượu từ 20 độ trở lên:

+Từ ngày 01/01/2016 đến hết 31/12/2016: 55%.

+ Từ ngày 01/01/2017 đến hết 31/12/2017: 60%.

+ Từ ngày 01/01/2018: 65%.

Trước đây là 50%.

- Đối với rượu dưới 20 độ: 

+ Từ ngày 01/01/2016 đến hết 31/12/2017: 30%.

+ Từ ngày 01/01/2018: 35%.

Trước đây là 25%.

- Đối với bia:

+ Từ ngày 01/01/2016 đến hết 31/12/2016: 55%.

+ Từ ngày 01/01/2017 đến hết 31/12/2017: 60%.

+ Từ ngày 01/01/2018: 65%.

Trước đây là 50%.

- Đối với xăng các loại:

+ Xăng: 10%

+ Xăng E5: 8%.

+ Xăng E10: 7%.

Trước đây, tất cả các loại xăng đều là 10%.

-  Đối với dịch vụ kinh doanh casino, trò chơi điện tử có thưởng: 35%.

Trước đây là 30%. 

     IV. LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI 2014

     Sau đây là một số điểm mới nổi bật của Luật BHXH 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2016) so với Luật BHXH 2006

     1. Chế độ thai sản đối với nam

Lao động nam đang đóng BHXH  khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:

- 05 ngày làm việc với trường hợp sinh thường;

- 07 ngày làm việc với trường hợp sinh phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;

- Trường hợp sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh 3 trở lên cứ thêm mỗi con thì nghỉ thêm 3 ngày làm việc;

- Trong trường hợp sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.

     2. Bổ sung trường hợp được hưởng chế độ thai sản đối với nữ

Theo đó, lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản.

     3. Thay đổi về mức đóng BHXH

Đối với người lao động đóng BHXH  theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đóng BHXH  là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động.

     4. Bổ sung nhiều quyền cho người lao động

Theo đó, người lao động sẽ có tất cả những quyền sau:

- Được tham gia và hưởng các chế độ BHXH  theo quy định của Luật này.

- Được cấp và quản lý sổ BHXH.

- Nhận lương hưu và trợ cấp BHXH  đầy đủ, kịp thời, theo một trong các hình thức chi trả sau:

+ Trực tiếp từ cơ quan BHXH  hoặc tổ chức dịch vụ được cơ quan BHXH  ủy quyền.

+ Thông qua tài khoản tiền gửi của người lao động mở tại ngân hàng.

+ Thông qua người sử dụng lao động.

- Hưởng BHYT  trong các trường hợp sau đây:

+ Đang hưởng lương hưu.

+ Trong thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

+ Nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.

+  Đang hưởng trợ cấp ốm đau đối với người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành.

-  Được chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 45 của Luật này và đang bảo lưu thời gian đóng BHXH; được thanh toán phí giám định y khoa nếu đủ điều kiện để hưởng BHXH .

- Ủy quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp BHXH .

- Định kỳ 06 tháng được người sử dụng lao động cung cấp thông tin về đóng BHXH; định kỳ hằng năm được cơ quan BHXH  xác nhận về việc đóng BHXH ; được yêu cầu người sử dụng lao động và cơ quan BHXH  cung cấp thông tin về việc đóng, hưởng BHXH .

- Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về BHXH  theo quy định của pháp luật.

     5. Điều chỉnh thông tin tham gia BHXH 

- Người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản với cơ quan BHXH  khi có thay đổi thông tin tham gia BHXH .

- Hồ sơ điều chỉnh thông tin cá nhân của người lao động tham gia BHXH  bao gồm:

+ Tờ khai điều chỉnh thông tin cá nhân.

+ Sổ BHXH .

+ Bản sao giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến việc điều chỉnh thông tin cá nhân theo quy định của pháp luật.

     6. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực bảo BHXH, BHYT, BHTN

- Thẩm quyền của cơ quan BHXH  bao gồm:

+ Tổng Giám đốc BHXH  Việt Nam có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 4 Điều 46 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

+ Giám đốc BHXH  cấp tỉnh có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 2 Điều 46 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

+ Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành do Tổng Giám đốc BHXH  Việt Nam quyết định thành lập có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 3 Điều 46 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

- Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều này có thể giao cho cấp phó thực hiện xử lý vi phạm hành chính.

- Mức phạt tiền tối đa đối với lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN, các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính và các quy định khác có liên quan về xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và quy định khác của pháp luật có liên quan.

     7. Quy định mới về thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý

Theo đó, khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền. Thời gian nghỉ việc tối đa được quy định như sau:

- 10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi.

- 20 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi.

- 40 ngày nếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi.

- 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

     V. LUẬT TÔ CHỨC QUỐC HỘI 2014

Ngày 20-11-2014, tại kỳ họp lần thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua toàn văn Luật tổ chức Quốc hội và luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2016. So với luật Tổ chức Quốc hội hiện hành, Luật Tổ chức quốc hội 2014 có nhiều điểm mới khác biệt.

     Điểm mới thứ nhất là trong luật Tổ chức Quốc hội 2014 là đã phân định rõ thời gian hoạt động của đại biểu chuyên trách và không chuyên trách. Cụ thể tại Điều 23 của luật đã nêu rõ: Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách dành toàn bộ thời gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu tại cơ quan của Quốc hội hoặc tại Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương. Đại biểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách phải dành ít nhất 1/3 thời gian làm việc trong năm để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội.

     Điểm mới thứ hai là luật mới bổ sung thêm quyền hạn mới của Đại biểu quốc hội. Điều 24 nêu rõ: Quyền tham gia làm thành viên và tham gia hoạt động của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Đại biểu Quốc hội không phải là thành viên của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có quyền đăng ký tham dự phiên họp do Hội đồng, Ủy ban tổ chức để thảo luận về những nội dung mà đại biểu quan tâm. Quyền ứng cử, giới thiệu người ứng cử vào các chức danh do Quốc hội bầu. Người được giới thiệu ứng cử có quyền rút khỏi danh sách những người ứng cử.

     Điểm mới thứ ba là luật mới đã quy định thêm Điều kiện bảo đảm cho đại biểu Quốc hội. Theo đó, ngoài các điều kiện bảo đảm theo Luật tổ chức Quốc hội 2001, luật 2014 đã bổ sung điều kiện sau: Thời gian làm việc trong năm mà đại biểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách dành cho việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu được tính vào thời gian làm việc của đại biểu ở cơ quan, tổ chức, đơn vị mà đại biểu làm việc. Đại biểu Quốc hội được ưu tiên trong việc mua vé tàu hỏa, ô tô, tàu thủy, máy bay; được ưu tiên khi qua cầu, phà. Trong trường hợp ốm đau, đại biểu Quốc hội không thuộc diện cán bộ trung cấp, cao cấp thì được khám và chữa bệnh theo tiêu chuẩn quy định đối với cán bộ trung cấp. Đại biểu Quốc hội, nguyên đại biểu Quốc hội không phải là cán bộ, công chức, viên chức khi qua đời được hưởng chế độ về tổ chức lễ tang như đối với cán bộ, công chức (Điều 42).

     Thứ tư là luật mới đã quy định về phối hợp công tác giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân. Theo quy định tại Điều 46 có nội dung như sau: Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy ban thường vụ Quốc hội phối hợp công tác với Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; yêu cầu đại diện các cơ quan, tổ chức khác và công dân tham gia khi cần thiết. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

     Thứ năm là luật mới đã bổ sung quy định về việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Theo đó, Điều 56 quy định: Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo đề nghị của Chính phủ. Đề án về việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải được Ủy ban của Quốc hội thẩm tra trước khi trình UBTV Quốc hội xem xét, quyết định.

     Thứ sáu là luật mới cũng đã bổ sung và quy định rõ trách nhiệm của UBTVQH trong việc tổ chức trưng cầu dân ý. Cụ thể, Điều 59 quy định như sau: UBTV Quốc hội tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội. UBTV Quốc hội quy định về hình thức phiếu trưng cầu, trình tự bỏ phiếu và kiểm phiếu; quyết định thời gian cụ thể trưng cầu ý dân, nội dung ghi trên phiếu trưng cầu ý dân căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội về việc trưng cầu ý dân; kiểm tra, giám sát việc trưng cầu ý dân. UBTV Quốc hội chịu trách nhiệm công bố kết quả trưng cầu ý dân với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

     VI. LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH PHỦ 2015

Luật này được Quốc hội biểu quyết thông qua vào ngày 19/6/2015 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2016.

Theo đó, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.

Phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chức năng và phạm vi quản lý giữa các bộ, cơ quan ngang bộ; đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu.

Chính phủ tổ chức bộ máy hành chính tinh gọn, năng động, hiệu quả; bảo đảm nguyên tắc cơ quan cấp dưới phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo và chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của cơ quan cấp trên.

Cùng với đó, phân cấp, phân quyền hợp lý giữa Chính phủ với chính quyền địa phương, bảo đảm quyền quản lý thống nhất của Chính phủ và phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương.

Minh bạch, hiện đại hóa hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan hành chính nhà nước các cấp; bảo đảm thực hiện một nền hành chính thống nhất, thông suốt, liên tục, dân chủ, hiện đại, phục vụ nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân…

     VII. LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 2015

Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật này đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các chủ trương, định hướng của Đảng về chính quyền địa phương; đồng thời kế thừa những nội dung hợp lý và sửa đổi, bổ sung các bất cập, vướng mắc trong 12 năm thực hiện Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003. Luật tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2016 và có 08 chương, 143 điều so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 thì tăng 02 chương, 03 điều.

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 cho đến khi bầu ra Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016 – 2021; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tại các đơn vị hành chính tiếp tục giữ nguyên cơ cấu tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003. Cũng từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, chấm dứt việc thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Luật Tổ chức chính quyền địa phương có một số điểm mới như sau:

     Thứ nhất, về đơn vị hành chính (Điều 2):

Luật Tổ chức chính quyền địa phương xác định các đơn vị hành chính gồm có:

- Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh);

- Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện);

- Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chunglà cấp xã);

- Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt.

Như vậy, so với Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã bổ sung thêm đơn vị hành chính: thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Đây là quy định nhằm cụ thể hóa Điều 110 Hiến pháp năm 2013. 

     Thứ hai, về tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính (Điều 04):

Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định cấp chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã.

Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn.

Trong một thời gian dài thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã quy định cấp chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính đều phải có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Ngoài ra, một trong những điểm mới nổi bật của Luật Tổ chức chính quyền địa phương so với Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 đó là có sự phân biệt giữa chính quyền địa phương ở nông thôn và ở đô thị, phù hợp với đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư, kết cấu hạ tầng và yêu cầu quản lý ở mỗi địa bàn. 

Thứ ba, về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương: 

a) Đối với Hội đồng nhân dân:

- Về cơ cấu tổ chức, Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương được thành lập thêm Ban đô thị (khoản 3 Điều 39) vì đây là những đô thị tập trung, có quy mô lớn, mức độ đô thị hóa cao và có nhiều điểm đặc thù khác với các địa bàn đô thị thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

- Về số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ 95 đại biểu lên 105 đại biểu để phù hợp với quy mô dân số, đặc điểm, tính chất của các đô thị lớn này (Điều 39). Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (số lượng là 2) hoạt động chuyên trách và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã (số lượng là 1) hoạt động chuyên trách;

Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện hoạt động chuyên trách; Phó Trưởng Ban cấp tỉnh, cấp huyện hoạt động chuyên trách; Trưởng, Phó Ban của HĐND cấp xã hoạt động kiêm nhiệm.  

     b) Đối với Ủy ban nhân dân:

- Về cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân nếu như trước đây, theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, không phải người đứng đầu của các cơ quan chuyên môn của UBND nào cũng là ủy viên của UBND thì đến Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã mở rộng cơ cấu tổ chức UBND theo đó tất cả người đứng đầu của các cơ quan chuyên môn của UBND đều là ủy viên của UBND. Đây là quy định nhằm phát huy trí tuệ tập thể của các thành viên UBND, tăng cường hiệu lực giám sát của HĐND đối với UBND cùng cấp thông qua cơ chế lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu.

- Về số lượng Phó Chủ tịch UBND các cấp được quy định theo phân loại đơn vị hành chính, theo đó đối với đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) có không quá 05 Phó Chủ tịch, loại I có không quá 04 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có không quá 03 Phó Chủ tịch. Đối với đơn vị hành chính cấp huyện loại I có không quá 03 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có không quá 02 Phó Chủ tịch. Đối với đơn vị hành chính cấp xã loại I có không quá 02 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có 01 Phó Chủ tịch.

Ngoài ra, Luật còn bổ sung Điều 124 quy định về việc điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cho phù hợp với quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ.

- Thủ tướng Chính phủ quyết định điều động Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quyết định điều động Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp.

- Thủ tướng Chính phủ quyết định cách chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quyết định cách chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân có hành vi vi phạm pháp luật hoặc không thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao.

- Người được điều động hoặc bị cách chức chấm dứt việc thực hiện nhiệm vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân kể từ khi quyết định điều động, cách chức có hiệu lực.

- Người đã quyết định điều động, cách chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân giao quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân; thông báo cho Hội đồng nhân dân về việc điều động, cách chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, giao quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân để Hội đồng nhân dân bầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân mới tại kỳ họp gần nhất. 

     Thứ tư, về việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính:

 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định khi có trên 50% tổng số cử tri trên địa bàn đồng ý với đề án thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính thì cơ quan xây dựng đề án mới được hoàn thiện đề án, trình HĐND các cấp thông qua chủ trương.

Luật còn bổ sung quy định về thẩm quyền đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính và giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính tại Điều 129 như sau:

- Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh; giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh.

- Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã.

- Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính; giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới đơn vị hành chính

     VIII. LUẬT MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 2015

Luật này được thông qua vào ngày 09/6/2015 và có hiệu lực từ 01/01/2016.

Luật mới này xây dựng thiết chế cho Mặt trận tổ quốc Việt Nam với tư cách là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một số điểm mới của luật:

     1. Làm rõ được các mối quan hệ mà trước đây nằm rải rác ở các luật khác hoặc trong các văn bản của Đảng.

Luật Mặt trận Tổ quốc 2015 làm rõ các mối quan hệ :

+ Mối quan hệ giữa Mặt trận với Nhân dân: MTTQVN đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Thông qua Ủy ban MTTQVN và các tổ chức thành viên, Nhân dân tham gia ý kiến, phản ánh, kiến nghị về những vấn đề Nhân dân quan tâm để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước.

+ Quan hệ của Mặt trận với Nhà nước: là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và, quyền hạn của mỗi bên theo quy định của Hiến pháp pháp luật. Quan hệ phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước được thực hiện theo Quy chế phối hợp công tác do Ủy ban MTTQVN và cơ quan nhà nước có liên quan ở từng cấp ban hành. Nhà nước tạo điều kiện để MTTQVN hoạt động có hiệu quả.

+ Quan hệ của Mặt trận với các tổ chức: Đối với các tổ chức thành viên của MTTQVN được thực hiện theo Điều lệ MTTQVN. Còn đối với các tổ chức không phải thành viên là quan hệ tự nguyện, được thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

     2. Tổ chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015 đã quy định khá rõ cơ cấu tổ chức của mặt trận  chứ không còn dẫn chiếu đến điều lệ mặt trận như trước đây.

Theo đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tổ chức như sau:

- Ở trung ương có Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

- Cấp tỉnh có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, thành phố trực thuộc trung

- Cấp huyện có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị hành chính tương đương;

- Cấp xã có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn.

- Ở mỗi cấp có Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định cụ thể về Ban công tác Mặt trận ở thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác (sau đây gọi chung là khu dân cư). Ban công tác này sẽ do  Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã thành lập. Tổ chức và hoạt động của Ban công tác Mặt trận do Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định.

Ngày truyền thống của Mặt trận và ngày hội đại đoàn kết dân tộc là 18/11 hằng năm.

     3. Nhấn mạnh vai trò của Nhân dân

Theo quy định tại Luật 2015, nhân dân giám sát hoạt động của MTTQVN để bảo đảm MTTQVN thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

     4. Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Đây là một trong những quy định mới của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015. Theo đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát triển đa dạng các hình thức tổ chức, hoạt động để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, không phân biệt thành phần giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, quá khứ nhằm động viên mọi nguồn lực góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các phương thức thực hiện việc này bao gồm:

- Tuyên truyền, vận động Nhân dân.

- Đoàn kết, hợp tác với các tổ chức hợp pháp của Nhân dân.

- Phát huy tính tích cực của cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo

- Kết nạp, phát triển thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Tuyên truyền, vận động người Việt Nam định cư ở nước ngoài đoàn kết cộng đồng, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, tôn trọng pháp luật nước sở tại; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

     5. Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân

Tại quy định của Luật MTTQVN 2015 này đã chỉ ra cụ thể 4 công việc phải làm của Mặt trận nhằm tăng cường việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân.4 nhiệm vụ đó là:

- Phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân tại các kỳ họp Quốc hội, kỳ hợp HĐND

- Phối hợp tổ chức tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

- Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện chính sách, pháp luật.

- Tiếp công dân, tham gia công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc xá, cử bào chữa viên nhân dân.

     6. Tham gia xây dựng nhà nước

Tại điều 19 của Luật này, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được giao khá nhiều nhiệm vụ trong hoạt động tổ chức, xây dựng nhà nước, cụ thể:

- Tham gia công tác bầu cử: thông qua việc tổ chức hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tham gia các tổ chức phụ trách bầu cử; phối hợp với cơ quan nhà nước hữu quan tổ chức hội nghị cử tri ở cấp xã, các cuộc tiếp xúc giữa cử tri với người ứng cử; tham gia tuyên truyền, vận động cử tri thực hiện pháp luật về bầu cử.

- Tham gia tuyển chọn Thẩm phán, Kiểm sát viên và giới thiệu Hội thẩm nhân dân

- Tham gia xây dựng pháp luật

 - Tham dự các kỳ họp Quốc hội, phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, kỳ họp Hội đồng nhân dân, phiên họp Ủy ban nhân dân

- Tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí

- Tham gia góp ý, kiến nghị với Nhà nước

     7. Hoạt động giám sát của Mặt trận

Việc giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo quy định của Luật 2015 là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật.

Theo đó, hoạt động giám sát này mang tính xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Việc giám sát phải được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm phát huy dân chủ, sự tham gia của Nhân dân, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng của Nhân dân; thực hiện công khai, minh bạch, không chồng chéo; không làm cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát.

     8. Hoạt động phản biện xã hội

Đây là một nội dung mới được cụ thể hóa quy định của khoản 1 điều 9Hiến pháp 2013.

Theo đó, Phản biện xã hội của MTTQVN được hiểu là việc Ủy ban MTTQVN các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của MTTQVN nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án của cơ quan nhà nước.

Hoạt động phản biện xã hội được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch, bảo đảm sự tham gia của thành viên, hội viên, đoàn viên và Nhân dân; tôn trọng các ý kiến khác nhau nhưng không trái với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, lợi ích quốc gia, dân tộc

Việc phản biện này sẽ thực hiện thông qua 3 phương pháp:

- Tổ chức hội nghị phản biện xã hội.

- Gửi dự thảo văn bản được phản biện đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để lấy ý kiến phản biện xã hội.

- Tổ chức đối thoại trực tiếp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với cơ quan, tổ chức có dự thảo văn bản được phản biện xã hội.

     IX. LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ 2015

Ngày 19 tháng 6 năm 2015, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, tại kỳ họp thứ 9 thông qua Luật nghĩa vụ quân sự số 78/2015/QH13. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.  Luật gồm 9 chương, 62 điều với một số điểm mới cụ thể như sau:

     - Đối tượng đăng ký nghĩa vụ quân sự: Công dân nam đủ 17 tuổi trở lên. Công dân nữ trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự có ngành, nghề chuyên môn phù hợp yêu cầu của Quân đội nhân dân đủ 18 tuổi trở lên.

     - Đối tượng miễn đăng ký nghĩa vụ quân sự: Người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh tâm thần hoặc bệnh mãn tính theo quy định của pháp luật.

     - Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ: Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan, binh sĩ là 24 tháng. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng được quyết định kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ nhưng không quá 06 tháng trong trường hợp: Để bảo đảm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; đang thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn. Thời hạn phục vụ của hạ sĩ quan, binh sĩ trong tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp về quốc phòng được thực hiện theo lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ.

     - Độ tuổi gọi nhập ngũ: Công dân đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi; công dân được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi.

     - Tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ:

Tạm hoãn gọi nhập ngũ đối với những công dân: Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe; là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận; một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%; có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân; người thuộc diện di dân, giãn dân trong 03 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định; cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.

Miễn gọi nhập ngũ đối với những công dân: Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một; một anh hoặc một em trai của liệt sĩ; một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên; người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân; cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ 24 tháng trở lên.

Công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ  nếu không còn lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ. Công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ hoặc được miễn gọi nhập ngũ nếu tình nguyện thì được xem xét tuyển chọn và gọi nhập ngũ.

Danh sách công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ, được miễn gọi nhập ngũ phải được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức trong thời hạn 20 ngày.

     X. LUẬT KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC 2015

     Từ ngày 01/01/2016, Luật Kiểm toán nhà nước 2015 chính thức có hiệu lực và thay thế Luật Kiểm toán nhà nước 2005. Trong đó, có một số điểm mới nổi bật như sau:

     1. Phạm vi áp dụng

Luật này quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của KTNN (KTNN); nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng KTNN), Kiểm toán viên nhà nước; quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đối với hoạt động KTNN.

     2. Đối tượng kiểm toán của KTNN

Đối tượng kiểm toán của KTNN là việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và các hoạt động có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công của đơn vị được kiểm toán.

     3. Chuẩn mực KTNN

Tổng KTNN sẽ xây dựng và ban hành hệ thống Chuẩn mực KTNN theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thay vì dựa trên quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội như trước đây.

   4. Giá trị pháp lý của Báo cáo kiểm toán

Báo cáo kiểm toán của KTNN sau khi phát hành và công khai có giá trị bắt buộc phải thực hiện đối với đơn vị được kiểm toán về sai phạm trong việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.

     5. Chức năng của KTNN

KTNN có chức năng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.

     6. Tăng thêm nhiệm vụ của KTNN 

- KTNN quyết định kế hoạch kiểm toán hằng năm và trước khi thực hiện chỉ báo cáo với Quốc hội, thay vì cả với Chính phủ như trước đây. 

- Tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán hằng năm và thực hiện nhiệm vụ kiểm toán theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

- KTNN xem xét, quyết định việc kiểm toán khi có đề nghị của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan, tổ chức không có trong kế hoạch kiểm toán năm của KTNN.

- KTNN có nhiệm vụ giải trình về kết quả kiểm toán với Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội theo quy định của pháp luật.

- KTNN Tổ chức thi, cấp, thu hồi và quản lý chứng chỉ Kiểm toán viên nhà nước.

     7. Quyền hạn của KTNN

KTNN sẽ có thêm quyền trình dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội theo quy định của pháp luật.

     8. Các quy định đối với chức danh Tổng KTNN có một số điểm đáng chú ý sau:

- Tổng KTNN là người đứng đầu KTNN, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội về tổ chức và hoạt động của KTNN.

- Tổng KTNN do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Nhiệm kỳ của Tổng KTNN là 05 năm theo nhiệm kỳ của Quốc hội, Tổng KTNN có thể được bầu lại nhưng không quá hai nhiệm kỳ liên tục.

- Tổng KTNN có thêm trách nhiệm:

+ Trình bày báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán năm, báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội; trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội trước Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội.

+ Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động kiểm toán của KTNN.

     9. Nghĩa vụ của đơn vị được kiểm toán trong thời gian giải quyết khiếu nại

Trong thời gian giải quyết khiếu nại, đơn vị được kiểm toán vẫn phải thực hiện đầy đủ, kịp thời kết luận, kiến nghị kiểm toán của KTNN, trừ trường hợp Tổng KTNN, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán của KTNN.

     10. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại liên quan đến đơn vị được kiểm toán

Khiếu nại và giải quyết khiếu nại liên quan đến đơn vị được kiểm toán như sau:

- Trong quá trình thực hiện kiểm toán, đơn vị được kiểm toán có quyền khiếu nại với Tổng KTNN về hành vi của Trưởng Đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán và các thành viên của Đoàn kiểm toán khi có căn cứ cho rằng hành vi đó là trái pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đơn vị.

- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kiểm toán, đơn vị được kiểm toán có quyền khiếu nại với Tổng KTNN về đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán trong báo cáo kiểm toán khi có căn cứ cho rằng kết quả kiểm toán đó là trái pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đơn vị.

- Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán được thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại.

- Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại, luật sư, trợ giúp viên pháp lý, việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật và các hành vi bị cấm thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại.

     XI. LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 2015

Luật này được Quốc hội thông qua vào ngày 22/6/2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016. Luật quy định rõ nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Trong đó, về văn bản quy phạm pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ là: Văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này. Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định của Luật này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.

Đối với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Luật quy định gồm: Hiến pháp; Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị hành chính tương đương (sau đây gọi chung là cấp huyện); Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Luật này cũng quy định rõ những hành vi bị nghiêm cấm là: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái Hiến pháp, trái văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Ban hành văn bản không thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Điều 4 của Luật này nhưng chứa quy phạm pháp luật. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định tại Luật này. Quy định thủ tục hành chính trong Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện; Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật.